Suy Tư Lại Về Cộng Đồng Ly Hương Qua Rô-ma 9–11

Tác giả: Hồ Cơ-Nghiệp, Hội Thánh Redemption Point
Bài tham luận trình bày tại Hội Thảo Thần Học Tin Lành Về Cộng Đồng Ly Hương Lần Thứ Nhất
Midway City, California, ngày 8 tháng 11 năm 2025


Tóm Lược

Kỷ niệm 50 năm con dân Chúa ở hải ngoại cũng là dịp chúng ta nhìn lại những nền tảng thần học đã định hướng cộng đồng mình. Thông thường chúng ta dùng quan niệm Kinh Thánh về sự “Lưu Đày và Xuất Hành” của Y-sơ-ra-ên. Tuy quan niệm này rất cần thiết để kể chuyện về sự sống còn và sự quan phòng của Chúa khi người Việt tản lạc tại Hải Ngoại, nhưng cũng có nguy cơ tạo ra bản chất khép kín cho hội thánh, chỉ tập trung vào việc bảo tồn văn hóa. Bài tham luận này đề xuất sự chuyển hướng dựa trên tư tưởng của Sứ đồ Phao-lô trong thư Rô-ma đoạn 9-11. Nỗi lòng của Phao-lô đầy thông cảm với nỗi đau của dân Y-sơ-ra-ên; đồng thời, lời kêu gọi của ông về sự công chính bởi đức tin và hình ảnh những cành hoang được tháp vào gốc đã giúp định hướng Hội Thánh Chúa cho tương lai. Qua lăng kính của Phao-lô, Hội Thánh Việt Nam có thể bước từ lòng thương tiếc Si-ôn đến vai trò xây dựng An-ti-ốt: một Hội Thánh được sai đi, vừa trân trọng nguồn dân tộc, vừa theo đuổi sứ mệnh cho muôn dân trong Đấng Christ.


Dẫn Nhập: Năm Hân Hỉ Tại Ngã Ba Đường

Năm 2025 đánh dấu kỷ niệm 50 năm ngày di tản, nhưng cũng là một Năm Hân Hỉ mời gọi cộng đồng Cơ Đốc nhân Việt Nam ly hương dừng lại, tưởng nhớ, và tái hình dung tương lai của mình. Năm mươi năm trước, hơn 125,000 người Việt đã phải rời bỏ quê hương trong bối cảnh hỗn loạn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo sau là những làn sóng “thuyền nhân” liều mình trên biển cả để tìm tự do.[^1] Các Cơ Đốc nhân chiếm một tỷ lệ cao hơn hẳn trong số những người tị nạn này: trong khi người Công giáo chỉ chiếm 7% dân số Việt Nam, họ lại chiếm khoảng 50% trong làn sóng người tị nạn đầu tiên.[^2]

Người Tin Lành, dù là một cộng đồng nhỏ hơn nhiều so với người Công giáo (khoảng 1-2% dân số Việt Nam), cũng đã tham gia vào cuộc di cư này với số lượng đáng kể.[^3] Nhiều mục sư, lãnh đạo giáo dân Tin Lành, và gia đình của họ đã trốn thoát hoặc được di tản cùng với nhân viên Hoa Kỳ vì tiên đoán sự đàn áp. Nhiều tín đồ Tin Lành đã ra đi vào năm 1975 hoặc rời đi sau đó với tư cách là ‘thuyền nhân.’ Các ghi nhận ban đầu của người tị nạn nêu bật vai trò tích cực của các Cơ Đốc nhân Tin Lành trong chuyến đi và tại các trại tị nạn. Tại các trung tâm tái định cư ở Hoa Kỳ, việc thờ phượng, truyền giảng, và cứu trợ thực tế của người Tin Lành đã hình thành ngay lập tức. Một ví dụ được ghi nhận rõ ràng đến từ Trại Fort Chaffee, Arkansas, nơi các mục sư thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (C&MA) Việt Nam phục vụ với tư cách tuyên úy; hơn 966 người tị nạn đã tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ trong vòng bảy tháng, và 633 người đã chịu phép báp-tem qua các buổi giảng đạo, lớp học Kinh Thánh, và sự chăm sóc mục vụ.[^4]

Các giáo phái và cơ quan truyền giáo Tin Lành đã nhanh chóng vận động giúp đở. Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (C&MA) đã thành lập một Giáo hạt Việt Nam vào năm 1975 để cung cấp một cái dù cho những Hội Thánh người tị nạn. Giáo hạt đó từ đó đã phát triển thành hơn một trăm Hội Thánh người Việt Nam trên toàn nước Mỹ.[^5] Tương tự, giáo hội Báp-tít Nam Phương đã kêu gọi các Hội Thánh cầu nguyện và trợ giúp người tị nạn Việt Nam vào năm 1975. Rộng hơn, các cơ quan cơ đốc là trung tâm của việc tái định cư: các tổ chức tôn giáo đã bảo trợ và hỗ trợ một phần lớn các gia đình tị nạn Đông Nam Á, cung cấp nhà ở, việc làm và cộng đồng.[^6] Ngày nay, Cơ Đốc nhân VN chiếm hơn một phần ba trong số 3.5 triệu người Việt sống ly hương trên toàn thế giới.[^7]

Cuộc di cư này đã khai sinh ra những cộng đồng Cơ Đốc nhân Việt Nam sôi nổi trên khắp Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc. Các Hội Thánh không chỉ đơn thuần trở thành chổ thờ phượng mà còn là những trung tâm cộng đồng—những nơi người tị nạn xây dựng lại cuộc sống, bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa, và truyền lại đức tin cho thế hệ kế tiếp. Sau khi tái định cư, người Tin Lành Việt Nam đã thành lập các cộng đồng thờ phượng với một tốc độ đáng kinh ngạc. Các Hội Thánh thường bắt đầu như những buổi học Kinh Thánh nhỏ trong các căn hộ và phát triển thành các hội thánh chính thức tại các trung tâm ly hương lớn. Việc truyền giảng trong cộng đồng ly hương đã dẫn đến nhiều sự cải đạo mới trong số những người tị nạn có nguồn gốc Phật giáo hoặc không tôn giáo. Chỉ trong một thế hệ, các Cơ Đốc nhân Việt Nam đã thành lập cả trăm Hội Thánh trên khắp Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc.

Khuôn khổ thần học chủ đạo (the dominant theological framework) đã định hình sự tự nhận thức của cộng đồng chúng ta là điều mà các học giả gọi là mô thức “Lưu Đày và Xuất Hành”: xem năm 1975 như một cuộc lưu đày khỏi quê hương, hành trình tị nạn như một cuộc xuất hành qua đồng vắng (trong Xuất Ê-díp-tô Ký), và cộng đồng ly hương như một dân tộc đang chờ đợi sự phục hồi.

Tuy nhiên, khi cộng đồng ly hương Việt Nam bước vào nửa thế kỷ thứ hai, những rạn nứt đã xuất hiện trong khuôn khổ này. Thế hệ thứ nhất—nay đã ở độ tuổi 70 và 80—vẫn bám chặt vào thân phận người tị nạn và những giấc mơ về nguồn, trong khi thế hệ thứ hai, sinh ra tại Mỹ, không thể cảm thông với một cuộc lưu đày mà họ chưa bao giờ trải qua. Các Hội Thánh phải vật lộn với điều mà nhiều nhà lãnh đạo mục vụ người Mỹ gốc Á gọi là “cuộc xuất hành thầm lặng” (Silent Exodus): một hiện tượng lan rộng nơi các thành viên thế hệ thứ hai, những người không thể liên hệ cá nhân với tổn thương của cuộc lưu đày và thường cảm thấy thoải mái hơn trong bối cảnh nói tiếng Anh, lặng lẽ rời xa Hội Thánh của cha mẹ mình.[^8] Mô thức “Lưu Đày” tập trung vào bảo tồn, dù rất quan trọng đối với thế hệ thứ nhất, có thể vô tình tạo ra những rào cản văn hóa và ngôn ngữ khiến Hội Thánh trở nên không thân thiện với chính con cái của mình. Mô thức Lưu Đày và Xuất Hành, dù cần thiết trong việc thuật lại sự sống còn và sự quan phòng, lại có nguy cơ nuôi dưỡng một bản sắc hướng nội, tập trung vào việc bảo tồn văn hóa thay vì tham gia vào sứ mạng Chúa.

Sự chuyển hướng thần học ban đầu sang một tư duy chống lại-lưu-đày phần lớn nhờ vào những nhà lãnh đạo như Tiến sĩ Lê Vĩnh Thạch, người dìu dắt tôi từ năm 1998 và sau này là Giáo hạt trưởng Giáo hạt Việt Nam (2012-2020). Mục sư Thạch nhận ra rằng tư duy “Lưu Đày” bảo tồn, với định hướng quay trở về nguồn cội, không đủ mạnh về mặt thuộc linh và cho sứ mạng Chúa cho một cộng đồng ly hương vĩnh viễn. Ông đã tích cực thúc đẩy việc tái định hình Diaspora (sự tản lạc của Cộng đồng Ly hương) như một cơ hội thiêng liêng cho sứ mạng Chúa—một sự thay đổi đã tạo ra thể chế cho các Hội Thánh như Midway và hội thánh Redemption Point để thử nghiệm với mô hình An-ti-ốt.

Các nhà lãnh đạo giáo hạt khác cũng đã đóng góp vào sự thay đổi này. Mục sư Đặng Minh Trí, khi vật lộn với nhu cầu nói tiếng Anh tại Hội Thánh Anaheim của mình, đã triển khai An-ti-ốt thành mô hình cần học cho Hội Thánh có thế hệ thứ hai tại Hội Đồng Mục sư Truyền Đạo trong Giáo Hạt vào đầu thập kỷ năm 2000.[^9] Ngoài giáo hạt, các cuộc trò chuyện trước đó vào từ thập niên 1980 giữa các nhà lãnh đạo như Tiến sĩ Hồ Xuân Phú và cố Mục sư Nguyễn Văn Độ đã nêu lên những thách thức lâu dài trong việc duy trì bản sắc dân tộc qua các thế hệ—những thách thức đòi hỏi nhiều hơn là các chiến lược tập trung vào bảo tồn. Những tiếng nói này đã tạo ra các điều kiện thần học và thể chế cho các thử nghiệm thực tế sau đó.

Bài tham luận này đề xuất một giải pháp theo Phao-lô, được rút ra từ sách Rô-ma đoạn 9-11. Cuộc vật lộn sâu sắc của Phao-lô với việc dân Y-sơ-ra-ên từ chối Đấng Mê-si của họ mang lại những điểm tương đồng đáng chú ý với kinh nghiệm của cộng đồng ly hương Việt Nam. “Nỗi đau đớn không thôi” của ông (Rô-ma 9:2) nâng cao nỗi đau của các cộng đồng bị di dời, trong khi thần học triệt để của ông về sự công chính bởi đức tin và tầm nhìn của ông về việc dân Ngoại được tháp vào dân giao ước của Đức Chúa Trời đã chuyển hướng nhìn của Hội Thánh ra bên ngoài. Thông qua Phao-lô, tôi nghỉ rằng Hội Thánh Việt Nam có thể chuyển từ việc tiếc thương Si-ôn sang việc xây dựng An-ti-ốt—từ một cộng đồng tập trung vào bảo tồn, mong mỏi một quá khứ không thể lấy lại, sang một Hội Thánh được sai phái, vừa trân trọng câu chuyện dân tộc của mình, vừa đón nhận sự kêu gọi phổ quát trong Đấng Christ.

Hành trình từ lý thuyết đến thực hành không phải là trừu tượng. Với tư cách là mục sư của Hội Thánh Redemption Point Church, một Hội Thánh Mỹ gốc Việt được khai sinh vào năm 2010 từ Mục Vụ Anh ngữ Midway, tôi đã trực tiếp chứng kiến cả những hứa hẹn và nguy cơ của sự thay đổi mô thức này. Câu chuyện của chúng tôi—bao gồm một cuộc xung đột đau đớn trong Hội Thánh vào năm 2009, một cuộc tái-khai-sinh với định hướng về sứ mạng Chúa vào năm 2010, và sự gia nhập bất ngờ của các tín hữu nói tiếng Việt vào Hội Thánh nói tiếng Anh của chúng tôi vào năm 2024—cung cấp bằng chứng cụ thể rằng việc chuyển từ Si-ôn sang An-ti-ốt không chỉ là một khát vọng thần học mà còn là một thực tại sống động.


Phần I: Mô Thức Lưu Đày và Xuất Hành: Điểm Mạnh & Hạn Chế

Cách Các Cơ Đốc Nhân Việt Nam Đã Định Hình về Câu Chuyện Của Mình

Mặc dù các tài liệu thần học chính thức trình bày cụ thể về “mô thức Lưu Đày và Xuất Hành” cho Cơ Đốc nhân Việt Nam vẫn còn hạn chế, những khái niệm này đã thấm nhuần trong các diễn ngôn của cộng đồng ly hương. Nhà nhân chủng học Janet Hoskins định nghĩa sự khác biệt: lưu đày biểu thị sự tan vỡ không mong muốn, sự di dời bắt buộc, và đau khổ, trong khi xuất hành gợi lên câu chuyện Kinh Thánh về cuộc di chuyển hàng loạt được thấm nhuần ý nghĩa thần học và sự giải cứu thiêng liêng.[^10] Những người tị nạn Việt Nam đã sử dụng cả hai khuôn khổ này để thấu hiểu tổn thương của họ.

Mô thức này hoạt động trên nhiều cấp độ. Trước hết, nó cung cấp một câu chuyện về sự sống còn và sự quan phòng. Các Cơ Đốc nhân Việt Nam kể lại những cuộc vượt thoát kỳ diệu khỏi Việt Nam, sự dẫn dắt thiêng liêng qua các trại tị nạn, và sự chu cấp của Chúa trong việc tái định cư. Như một thuyền nhân đã làm chứng: “Nhiều người đã không thoát được—họ bị chết đuối, họ bị hải tặc giết. Tôi là một trong những người may mắn.”[^11] Lăng kính Xuất Hành biến sự sống còn ngẫu nhiên thành sự giải cứu thiêng liêng, biến hỗn loạn thành sự thành tín trong giao ước.

Thứ hai, nó tạo ra bản sắc và sự gắn kết cộng đồng. Trải nghiệm chung về sự di dời—điều mà người Việt gọi là “tản lạc”—tạo nên những mối liên kết mạnh mẽ. Các Cơ Đốc nhân Việt Nam không chỉ nhận mình là những người nhập cư đã chọn di dời, mà là những người tị nạn bị buộc phải chạy trốn. Sự phân biệt này rất quan trọng. Lập trường chống Cộng trong cộng đồng ly hương Việt Nam xuất phát trực tiếp từ những trải nghiệm bị đàn áp tôn giáo dưới chế độ Cộng sản.[^12]

Thứ ba, mô thức này thúc đẩy sự bảo tồn văn hóa và tôn giáo. Nếu cộng đồng ly hương là một cuộc lưu đày tạm thời đang chờ đợi sự trở về hoặc phục hồi, thì việc duy trì ngôn ngữ, phụng vụ và truyền thống Việt Nam trở nên tối quan trọng. Các Hội Thánh tổ chức các buổi lễ bằng tiếng Việt, ăn mừng Tết Nguyên Đán với các món ăn và phong tục truyền thống, và tổ chức các nhóm thanh thiếu niên được thiết kế rõ ràng để truyền lại cả đức tin và văn hóa cho thế hệ kế tiếp. Như nhà thần học Công giáo Peter C. Phan nhận xét, “Nhà thờ không chỉ đơn giản là một nơi thờ phượng, mà nó là trung tâm của cộng đồng Việt Nam.”[^13]

Những Điểm Mạnh Không Thể Chối Cãi của Mô Thức

Khuôn khổ Lưu Đày và Xuất Hành đã phục vụ cộng đồng ly hương Việt Nam cách đáng kể. Nó đã cung cấp ý nghĩa cho những tổn thương không thể hiểu nổi, biến mất mát vô nghĩa thành một chương trong trường ca cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Nó đã nuôi dưỡng hy vọng—định hướng tương lai cần thiết để người tị nạn xây dựng lại thay vì tuyệt vọng. Nó đã làm rõ bản sắc trong một thế giới mới lạ lẫm, nó trả lời câu hỏi “Chúng ta là ai?” bằng câu trả lời: “Chúng ta là dân của Đức Chúa Trời đang bị lưu đày.” Nó đã tạo ra sự đoàn kết và các hệ thống hỗ trợ lẫn nhau, giúp thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và sự phát triển của cộng đồng. Và nó đã thể hiện sự kiên cường sâu sắc, với việc các Cơ Đốc nhân Việt Nam không chỉ sống sót mà còn thành lập hàng trăm Hội Thánh, chủng viện và các tổ chức truyền giáo chỉ trong một thế hệ.

Khi Kỷ niệm 50 năm Hân Hỉ, chúng ta phải tôn vinh di sản này. Mô thức Lưu Đày và Xuất Hành không phải là một sai lầm thần học—nó là một huyết mạch.

Những Hạn Chế Trở Nên Rõ Rệt Sau 50 Năm

Tuy nhiên, khi cộng đồng ly hương Việt Nam trưởng thành, những hạn chế của mô thức này ngày càng rõ rệt. Về cơ bản nhất, nó nuôi dưỡng một sự tập trung hướng nội. Khi nhiệm vụ chính là bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa, giáo lý chính thống và ký ức, các Hội Thánh tự nhiên sẽ trở thành những ốc đảo dân tộc. Hội Thánh Báp-tít Việt Nam Quincy đã than thở vào năm 2024: “Hội thánh chúng tôi thiếu người trẻ… chúng tôi đã không thể tiếp cận được những người di cư và sinh viên Việt Nam vì hội thánh thiếu các Cơ Đốc nhân trẻ tuổi.”[^14] Mệnh lệnh bảo tồn có nghịch lý làm suy yếu chính tương lai mà nó tìm cách bảo vệ.

Mô thức này cũng tạo ra sự kẹt cứng trong thời gian. Năm mươi năm sau, nhiều người Việt thế hệ thứ nhất vẫn chủ yếu tự nhận mình là người tị nạn hoặc người lưu vong—một phạm trù mà con cháu sinh ra tại Mỹ của họ không thể nào thừa hưởng. Cộng đồng ly hương Việt Nam, theo lời của một nhà quan sát, đã “bị mắc kẹt trong lịch sử.”[^15] Bản sắc lưu vong ngăn cản sự tham gia vào các cơ hội hiện tại và các khả năng trong tương lai.

Sự ám ảnh chống Cộng gắn liền với câu chuyện lưu đày, dù có thể hiểu được do sự đàn áp thực tế, có thể che khuất chính Phúc Âm. Chính trị có thể trở thành một điều thử nghiệm cho bản sắc Cơ Đốc nhân Việt Nam đích thực. Điều này khiến việc hòa giải với Việt Nam hiện đại—một quốc gia đã trải qua những biến đổi kinh tế và xã hội đáng kể kể từ khi Đổi Mới (cải cách) bắt đầu vào năm 1986—trở nên gần như không thể được đối với nhiều người trong cộng đồng ly hương.

Quan trọng nhất đối với lập luận cho bài này, mô thức Lưu Đày và Xuất Hành nuôi dưỡng một tầm nhìn hạn hẹp với sứ mạng Chúa. Lập trường cơ bản là phòng thủ: bảo vệ những gì chúng ta có, bảo tồn dân tộc chúng ta, chờ đợi sự phục hồi. Câu chuyện Lưu Đày, về bản chất cấu trúc của nó, không dể tạo ra một Hội Thánh được sai phái. Nó tạo ra một dân tộc tản lạc mong mỏi quê nhà, chứ không phải một phong trào truyền giáo công bố tin mừng cho các quốc gia.


Phần II: Sự Than Khóc và Thoát Giải của Phao-lô: Đọc Rô-ma 9-11

Bối Cảnh Lịch Sử: Một Hội Thánh Trong Giai Đoạn Chuyển Tiếp

Để hiểu được lập luận đầy nhiệt huyết của Phao-lô trong Rô-ma 9-11, chúng ta phải nắm bắt cả động lực lịch sử của Hội Thánh La Mã và tấm lòng đầy giằn vặt trong chính Phao-lô. Một sự kiện quan trọng đã xảy ra khoảng tám năm trước đó, vào khoảng năm 49 sau Công nguyên: Hoàng đế Claudius đã trục xuất người Do Thái khỏi La Mã. Nhà sử học La Mã Suetonius đã ghi lại: “Vì người Do Thái liên tục gây rối loạn vì Chrestus, ông [Claudius] đã trục xuất họ khỏi La Mã” (ludaeos impulsore Chresto assidue tumultuantis Roma expulit).[^16] “Chrestus” gần như chắc chắn là một cách viết khác cho “Christ”, cho thấy cuộc trục xuất được kích hoạt bởi những xung đột trong nhà hội về địa vị Mê-si của Chúa Giê-xu.

Cuộc trục xuất này đã có những tác động sâu sắc đối với Hội Thánh La Mã, vốn có lẽ đã bắt đầu trong các nhà hội Do Thái ở đó. Trong vài năm, Hội Thánh trở thành được lãnh đạo do người Ngoại vì hoàn cảnh cần thiết. Khi Claudius qua đời vào năm 54 sau Công nguyên, người Do Thái bắt đầu trở lại La Mã—bao gồm cả các Cơ Đốc nhân Do Thái như Pê-rít-sin và A-qui-la (Rô-ma 16:3), những người mà Phao-lô đã gặp ở Cô-rinh-tô sau khi họ bị trục xuất (Công vụ 18:2).

Những Cơ Đốc nhân Do Thái trở về đã thấy một nền văn hóa Hội Thánh giờ đây được định hình bởi người Ngoại. Các thực hành thờ phượng, cơ cấu lãnh đạo, và các quan điểm thần học đều đã thay đổi trong thời gian họ vắng mặt. Các Cơ Đốc nhân người Ngoại, lúc này chiếm đa số và đã duy trì Hội Thánh thành công mà không có sự lãnh đạo của người Do Thái, có thể đã cảm thấy ưu việt hơn, xem việc người Do Thái từ chối Chúa Giê-xu là bằng chứng cho thấy Đức Chúa Trời đã vĩnh viễn thay thế Y-sơ-ra-ên bằng Hội Thánh người Ngoại.

Nhưng ở đây chúng ta phải dừng lại và xem xét về Phao-lô. Ông không viết cho họ như một nhà thần học tách biệt, đưa ra những suy tư trừu tượng về lịch sử cứu rỗi. Ông viết như một tín hữu Do Thái thế hệ thứ nhất đang chứng kiến dân tộc của mình—dân tộc mà ông yêu thương với “nỗi đau đớn không thôi”—bị gạt ra ngoài lề trong chính phong trào mà Đấng Mê-si của Do Thái đã sáng lập.

Uy tín của Phao-lô là không thể chê vào đâu được. Ông được “chịu phép cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng Y-sơ-ra-ên, chi phái Bên-gia-min, người Hê-bơ-rơ sinh bởi người Hê-bơ-rơ; về luật pháp, thuộc phái Pha-ri-si” (Phi-líp 3:5). Ông hiểu Torah, nói tiếng Hê-bơ-rơ và A-ram, tuân giữ các phong tục Do Thái. Ông có thể truy nguyên dòng dõi của mình. Ông là hiện thân của bản sắc Do Thái. Nhưng dù vậy, ông đã trở thành sứ đồ cho dân Ngoại—người được giao nhiệm vụ đưa những người ngoài vào gia đình của Đức Chúa Trời.

Hãy tưởng tượng sự căng thẳng nội tâm trong Phao-lô: một tình yêu sâu sắc đối với di sản của mình kết hợp với một sự kêu gọi dường như đe dọa chính trọng tâm của di sản đó.

Mọi nơi Phao-lô đến, ông đều thấy cùng một khuôn mẫu đau đớn. Người Do Thái từ chối phúc âm; người Ngoại đón nhận nó. Các nhà hội đuổi ông đi; các gia đình người Ngoại chào đón ông. Một dân tộc đã được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cho Đấng Mê-si thì lại nói “không”; các dân tộc không có sự chuẩn bị nào lại nói “dạ“. Và bây giờ, tại La Mã—tại thủ đô của đế chế, Hội Thánh sẽ định hình tương lai của Cơ Đốc giáo. Đồng thời, có một động lực tương tự đang cứng lại thành sự kiêu ngạo. Các tín hữu người Ngoại đang bắt đầu nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã xong việc với Y-sơ-ra-ên. Những nhánh ô-li-ve dại đang khinh miệt những nhánh tự nhiên.

Trái tim của Phao-lô bị xé đôi theo hai hướng cùng một lúc. Ông đau buồn vì hầu hết người Do Thái đã từ chối Chúa Giê-xu: “Tôi có sự buồn bực lớn và sự đau đớn không thôi trong lòng. Vì tôi ao ước chính mình bị dứt bỏ, xa cách Đấng Christ, vì anh em tôi, tức là những người bà con của tôi về phần xác” (Rô-ma 9:2-3). Nhưng ông cũng lo sợ rằng sự kiêu ngạo của người Ngoại sẽ làm hỏng sự hiểu biết của Hội Thánh về sự thành tín của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời có thể đơn giản loại bỏ Y-sơ-ra-ên sau hàng thiên niên kỷ của mối quan hệ giao ước, thì các Cơ Đốc nhân người Ngoại có gì đảm bảo cho sự an toàn của chính họ?

Trái tim tan nát của Phao-lô—vừa đau buồn cho dân tộc mình, vừa lãnh đạo một phong trào cho người Ngoại—không chỉ là một tình cảm cổ xưa; đó chính là nỗi thống khổ của cộng đồng ly hương Việt Nam. Những người tị nạn Việt Nam thế hệ thứ nhất hiểu được trái tim tan nát của Phao-lô. Họ yêu di sản của họ—ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử chung về sự sống còn. Họ muốn con cái họ biết họ từ đâu đến, để tôn vinh những hy sinh đã qua, để bảo tồn những gì gần như đã chết vào năm 1975. Và tuy nhiên, họ chứng kiến Hội Thánh của họ ngày càng trở nên chủ yếu nói tiếng Anh. Họ thấy con cái họ thoải mái hơn trong văn hóa Mỹ hơn là văn hóa Việt. Họ chứng kiến sự lãnh đạo chuyển sang thế hệ thứ hai, những người có trải nghiệm “làm dân Việt Nam” hoàn toàn khác với họ.

Giống như Phao-lô, các tín hữu Việt Nam thế hệ thứ nhất phải đối mặt với một sự căng thẳng đau đớn: Làm thế nào ta có thể nâng cao di sản của mình mà không biến nó thành thần tượng? Làm thế nào ta có thể đau buồn cho những gì đang mất đi mà không oán giận những gì đang đạt được? Làm thế nào ta có thể truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ kế tiếp khi họ không hoàn toàn hiểu những gì mình đang trao cho họ?

Câu trả lời của Phao-lô trong Rô-ma 9-11 không phải là chọn lựa giữa di sản và sứ mạng, giữa việc bảo tồn bản sắc Do Thái và chào đón người Ngoại. Câu trả lời của ông là tái định hình chính bản sắc dân tộc để xoay quanh Đấng Christ là gốc rễ. Cả những nhánh tự nhiên (người Do Thái) và những nhánh dại (người Ngoại) đều hút sự sống từ cùng một nguồn. Cả hai đều đứng vững chỉ bởi đức tin, không phải bởi sắc tộc hay nỗ lực. Và cả hai phải thực hành sự khiêm nhường—người Do Thái nhớ rằng sự cứu rỗi luôn luôn bởi ân điển, người Ngoại nhớ rằng họ là những người đến sau được tháp vào cây ô-li-ve của Y-sơ-ra-ên, chứ không phải một cây mới do chính họ tạo ra.

Phao-lô viết để sửa chữa sự kiêu ngạo của người Ngoại trong khi đảm bảo với các tín hữu Do Thái về vị trí tiếp tục của họ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ông viết như một người yêu mến Y-sơ-ra-ên sâu sắc trong khi chấp nhận rằng phúc âm đang phá vỡ ranh giới sắc tộc. Ông viết với thẩm quyền của một người Pha-ri-si và sự tổn thương của một người cha đang chứng kiến dân tộc mình bỏ lỡ Đấng Mê-si của họ. Nói cách khác, ông viết từ chổ các tín hữu Việt Nam thế hệ thứ nhất thấy được mình: bị giằng xé giữa đau buồn và hy vọng, di sản và sứ mạng, bảo tồn và biến đổi.

Nỗi Thống Khổ của Phao-lô, Trái Tim của Cộng Đồng Ly Hương (Rô-ma 9:1-5)

Với bối cảnh này, giờ đây chúng ta có thể nghe những lời mở đầu của Phao-lô với một cường độ mới. Phao-lô mở đầu phần mà nhiều học giả coi là trái tim thần học của sách Rô-ma với một cường độ cảm xúc đáng kinh ngạc: “Tôi có sự buồn bực lớn và sự đau đớn không thôi trong lòng. Vì tôi ao ước chính mình bị dứt bỏ, xa cách Đấng Christ, vì anh em tôi, tức là những người bà con của tôi về phần xác” (Rô-ma 9:2-3). N.T. Wright lưu ý rằng “hoàn toàn không thể đọc Rô-ma 9-11 như bất cứ điều gì khác ngoài một tuyên bố vững chắc và sâu sắc dựa trên Christology”—tuy nhiên Christology của Phao-lô không thể tách rời khỏi trái tim mục vụ của ông.[^17]

Đây là nỗi thống khổ của cộng đồng ly hương. Phao-lô không viết như một nhà thần học tách biệt mà như một người bị kẹt giữa hai thế giới: di sản Do Thái của ông và sự kêu gọi của ông đối với dân Ngoại, tình yêu của ông dành cho Y-sơ-ra-ên và sự cam kết của ông với một phúc âm vượt qua ranh giới sắc tộc. Ông liệt kê những đặc ân độc nhất của Y-sơ-ra-ên với sự tôn kính rõ ràng: sự làm con nuôi, sự vinh quang, các giao ước, luật pháp, sự thờ phượng trong đền thờ, những lời hứa, các tộc trưởng, và cao cả nhất, chính Đấng Mê-si-a “theo phần xác” (Rô-ma 9:4-5). Douglas Moo nắm bắt được sự căng thẳng: “Vậy thì, tại sao Y-sơ-ra-ên không được cứu chuộc, như Cựu Ước đã hứa?”[^18] Nỗi đau của Phao-lô xuất phát từ sự trớ trêu bi thảm rằng dân tộc được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất cho Đấng Mê-si-a lại phần lớn đã từ chối Ngài.

Là một mục sư người Mỹ gốc Việt, tôi biết nỗi thống khổ này. Gần đây tôi đi thăm Việt Nam và gặp gỡ các Cơ Đốc nhân ở đó đang thực hiện những hy sinh phi thường cho phúc âm—từ bỏ những sự nghiệp đầy hứa hẹn để thành lập các Hội Thánh. Nhưng tôi cũng ti3ng ngộ với đánh giá mới nhất của Joshua Project: người Kinh, người Việt chính gốc, vẫn ở mức “màu cam” trên thang đo của họ, có nghĩa là phúc âm vẫn chưa được lan rộng. Trong số 98 triệu người, đại đa số đang sống và chết mà không biết đến Đấng Christ. Phao-lô làm mẫu cho cộng đồng ly hương Việt Nam bằng cách nắm giữ đồng thời hai sự thật: tình yêu sâu sắc đối với dân tộc mình và cam kết không lay chuyển đối với phúc âm phổ quát của Đức Chúa Trời.

Vượt Qua Huyết Thống: Sự Dân Chủ Hóa Gây Sốc của Ân Điển (Rô-ma 9:6-10:13)

Thần học của Phao-lô trong Rô-ma 9-11 đã hệ thống hóa việc phá bỏ bất kỳ tuyên bố nào về địa vị đặc quyền trước mặt Đức Chúa Trời dựa trên sắc tộc, di sản, hoặc nỗ lực của con người. Lập luận của ông diễn ra trong ba làn sóng kinh ngạc.

Thứ nhất, bản sắc không nằm ở dòng dõi (Rô-ma 9:6-9). “Không phải tất cả những ai bởi Y-sơ-ra-ên mà ra đều là người Y-sơ-ra-ên, và không phải tất cả con cháu của Áp-ra-ham đều là con cái của ông” (9:6-7). Các ví dụ về Y-sác hơn Ích-ma-ên và Gia-cốp hơn Ê-sau chứng minh rằng việc có dòng dõi thể chất từ Áp-ra-ham không đảm bảo điều gì.

Thứ hai, bản sắc không nằm ở nỗ lực (Rô-ma 9:10-18). Gia-cốp được chọn hơn Ê-sau trước khi cả hai “làm điều gì thiện hay ác, để mục đích của Đức Chúa Trời trong sự lựa chọn được đứng vững—không phải bởi việc làm mà bởi Đấng kêu gọi” (9:11). Việc Phao-lô trích dẫn Xuất Hành 33:19—”Ta sẽ thương xót ai Ta thương xót, và sẽ có lòng nhân từ với ai Ta có lòng nhân từ” (9:15)—thiết lập lòng thương xót là đặc quyền tối cao của Đức Chúa Trời.

Thứ ba, bản sắc chỉ được tìm thấy trong lòng thương xót của Đức Chúa Trời (Rô-ma 9:24-33). Và lòng thương xót này mở rộng một cách gây sốc ra ngoài Y-sơ-ra-ên đến dân Ngoại. Phao-lô xâu chuỗi các lời tiên tri Cựu Ước lại với nhau như những viên ngọc trên một sợi dây chuyền.

Lời hứa của Ô-sê rằng “Không phải dân ta” sẽ được gọi là “con cái của Đức Chúa Trời hằng sống” (9:25-26), và thần học về dân sót của Ê-sai cho thấy chỉ một số nhỏ sẽ được cứu (9:27-29).

Rô-ma đọan 10 tăng cường quỹ đạo này. Đấng Christ là “sự cuối cùng của luật pháp để được công chính cho mọi người tin” (10:4)—không phải là sự hoàn thành của nó như một mục tiêu mà là sự chấm dứt của nó như một hệ thống. Kết luận không thể phổ quát hơn: “Mọi người kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu” (Rô-ma 10:13, trích Giô-ên 2:32). Như tôi đã giải thích cho hội chúng, “Sự khác biệt giữa ‘tôn giáo’ và ‘Phúc Âm’ là đây: ‘Tôn giáo’ hỏi, ‘Tôi cần làm gì để được Đức Chúa Trời chấp nhận?’ ‘Phúc Âm’ hỏi, ‘Đấng Christ đã làm gì để khiến tôi được Đức Chúa Trời chấp nhận?'”[^19]

Các Nhánh Được Tháp Vào và Cây Ô-li-ve Thuộc Về Đấng Christ (Rô-ma 11:1-24)

Ẩn dụ về cây ô-li-ve trong Rô-ma 11:17-24 có nhiều tranh luận thần học, nhưng Svetlana Khobnya giải kinh về Đấng Christ rất thuyết phục và mang tính biến đổi nhất cho thần học ly hương. Gốc rễ chính là Đấng Christ, không chỉ đơn thuần là các tộc trưởng hay dân Y-sơ-ra-ên về mặt sắc tộc.[^20]

Bằng chứng Khobnya đưa ra là đáng kể. Thứ nhất, Phao-lô xác định rõ ràng Đấng Christ là “gốc của Y-sai” trong Rô-ma 15:12, trích dẫn Ê-sai 11:10. Thứ hai, Đấng Christ được mô tả là ἀπαρχή (trái đầu mùa) liên quan đến sự phục sinh (1 Cô-rinh-tô 15:20-23), “trái đầu mùa” tương đồng với ngôn ngữ “nhánh” trong Rô-ma 11:16. Thứ ba, Đấng Christ là πρωτότοκος (Con đầu lòng), sự khởi đầu của gia đình được đổi mới của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:29).

Cách đọc này biến đổi toàn bộ phép ẩn dụ:

  • Cây ô-li-ve trồng = dân của Chúa được định nghĩa bởi mối quan hệ với Đấng Christ
  • Gốc rễ = Đấng Christ, nguồn của mọi sự sống và sự thánh khiết
  • Các nhánh tự nhiên = người Do Thái về mặt sắc tộc có mối liên hệ lịch sử với những lời hứa của Đức Chúa Trời
  • Các nhánh ô-li-ve dại = dân Ngoại không có tuyên bố trước đó
  • Được tháp vào = dân Ngoại được đưa vào tham gia trong Đấng Christ bởi ân điển

Phao-lô dùng sự vô lý về mặt nông nghiệp: thông thường các nhánh trồng được tháp vào gốc dại, nhưng ở đây các nhánh dại được tháp vào một cây trồng (11:24). Sự đảo ngược này là có chủ ý: dân Ngoại không có gì để cống hiến. Họ không đóng góp di truyền ưu việt, không có công trạng tích lũy, không có dòng dõi tôn giáo. Họ đến như những nhánh dại được nuôi dưỡng hoàn toàn bởi sự phong phú của gốc rễ—tức là bởi Đấng Christ.

Điều này mang những ý nghĩa sâu sắc cho Hội Thánh Việt Nam. Chúng ta là những nhánh ô-li-ve dại. Cũng như dân bản xứ ở Mỹ. Chúng ta đến với Đấng Christ không qua dòng dõi của Áp-ra-ham, không qua giao ước Môi-se, không qua đền thờ và chức tế lễ. Chúng ta đến như những người ngoài cuộc, những người nhận được ân điển gây sốc, được tháp vào chỉ bởi đức tin. Bản sắc của chúng ta không bắt nguồn từ việc mình là người Việt Nam mà là từ việc được hợp nhất với Đấng Christ. Như tôi đã lập luận khi phê bình chủ nghĩa Việt Nam hóa Cơ Đốc giáo, “Bản sắc của bạn trong Đấng Christ không phải là Cơ Đốc giáo Việt Nam, mà là một biểu hiện Việt Nam của Phúc Âm trong Chúa Giê-xu Cơ Đốc. Gốc cây không phải là của chúng ta để định hình. Chúng ta được mời gọi để ở trong gốc. Văn hóa trở thành bối cảnh, không phải nội dung, của việc môn đồ hóa.”[^21]


Phần III: Từ Si-ôn đến An-ti-ốt: Một Sự Thay Đổi Mô Thức Hội Thánh Học

Tại Sao Không Phải Là Giê-ru-sa-lem?

Nếu mô thức Lưu Đày và Xuất Hành tự nhiên tạo ra một mô hình Giê-ru-sa-lem—một dân tộc tập trung quanh đền thờ và truyền thống, chú trọng vào sự tinh sạch và bảo tồn—thì Rô-ma 9-11 lại hướng đến một điều khác. Giê-ru-sa-lem là hội thánh mẹ, trung tâm lịch sử của Do Thái giáo khi Cơ Đốc giáo còn sơ khai. Nhưng chính An-ti-ốt mới là động cơ truyền giáo của hội thánh đầu tiên.

Sự tương phản này rất quan trọng. Mặc dù Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, do Gia-cơ và các sứ đồ lãnh đạo, ban đầu đã thận trọng về việc chấp nhận hoàn toàn người Ngoại, nhưng vai trò của họ cũng mang tính hỗ trợ. Khi cơn bắt bớ làm tan lạc các tín hữu, động lực truyền giáo bắt đầu đến từ những tín hữu từ Chíp-rơ và Sy-ren, là những người đã bắt đầu “giảng cho cả người Hy Lạp nữa” (Công vụ 11:20). Đáp lại, như Mục sư Phạm Hùng nhận xét, Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã chủ động sai Ba-na-ba—một người xây cầu nối đáng tin cậy—để xác thực và khích lệ công việc mới này từ Chúa (Công vụ 11:22).[^21a] Mối quan hệ tương hỗ này là chìa khóa: Giê-ru-sa-lem nhìn về di sản của mình, nhưng cũng sai phái các nhà lãnh đạo để chúc phước cho tương lai; An-ti-ốt nhìn ra các quốc gia, nhưng cũng gửi cứu trợ về cho hội thánh mẹ. Giê-ru-sa-lem bảo tồn truyền thống; An-ti-ốt tiên phong trong sứ mạng.

Hội Thánh Mà Lần Đầu Tiên Được Gọi Là Cơ Đốc Nhân (Công vụ 11:19-30)

Trong khuôn khổ “Phiên bản hóa Hội Thánh” của tôi, tôi ví An-ti-ốt như hội thánh mẫu mực v3.0 của Kinh Thánh—một cộng đồng truyền giáo trưởng thành đã vượt qua cả giai đoạn tụ họp thân mật (v0.5), giai đoạn tổ chức (v1.0), và giai đoạn phát triển thể chế (v2.0) để trở thành một trung tâm sai phái thực sự.[^22] Bốn đặc điểm đã đánh dấu An-ti-ốt là một hội thánh truyền giáo:

  1. Sự Tiếp Cận Nổi Bật với Người Chưa Tin: Hội thánh được khai sinh thông qua việc truyền giảng cho cả người Do Thái và người Ngoại. “Tay Chúa ở với họ” (11:21), cho thấy sự chấp thuận của Chúa đối với lời chứng vượt qua ranh giới của họ.
  2. Sự Rộng Lượng và Lòng Thương Xót do Thánh Linh Dẫn Dắt: An-ti-ốt đã thể hiện sự đáp ứng đáng kể đối với sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời cho nhu cầu của con người. Khi Thánh Linh tiết lộ qua A-ga-bút rằng một nạn đói sắp xảy ra (11:28), hội thánh đã ngay lập tức đáp lại bằng sự dâng hiến hy sinh, gửi cứu trợ đến Giê-ru-sa-lem (11:29-30). Mặc dù là một hội thánh đa sắc tộc trẻ với nguồn lực hạn chế, họ đã thực hành lòng rộng lượng được thúc đẩy bởi ân điển, không phải vì nghĩa vụ pháp lý. Mô hình này quan trọng hơn cơ chế: Đức Chúa Trời tiết lộ một nhu cầu, và hội thánh đã đáp lại bằng lòng trắc ẩn vô giá.
  3. Mục Vụ Giảng Dạy Bền Vững: Ba-na-ba và Sau-lơ đã “dạy dỗ rất nhiều người” trong suốt một năm (11:26). Đây không phải là giải trí thu hút người tìm đạo mà là sự hướng dẫn Kinh Thánh vững vàng để gây dựng những môn đồ trưởng thành có khả năng được sai đi.
  4. Việc Sai Phái Truyền Giáo Lấy Thờ Phượng Làm Trung Tâm: Công vụ 13:1-3 mô tả thời điểm then chốt: “Khi họ đang thờ phượng Chúa và kiêng ăn, Đức Thánh Linh phán rằng: ‘Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho ta, để làm công việc ta đã gọi họ.'” Việc ủy thác sứ mạng Chúa không xảy ra trong một cuộc họp của ban bệ mà trong bối cảnh cầu nguyện, kiêng ăn và thờ phượng. Sứ mạng nảy sinh từ sự tương giao với Đức Chúa Trời.

An-ti-ốt là Hiện Thân Thần Học của Rô-ma 11

Mối liên hệ giữa thần học cây ô-li-ve của Phao-lô và mô thức hội thánh An-ti-ốt giờ đây đã rõ ràng. An-ti-ốt là cây được tháp vào trở nên hữu hình: các nhánh tự nhiên (các tín hữu Do Thái như Ba-na-ba và Phao-lô) và các nhánh dại (những người tin Chúa người Ngoại) cùng hút sự sống từ cùng một gốc (Đấng Christ), cùng thờ phượng, và cùng được sai đi.

An-ti-ốt đã chứng tỏ rằng Tin Lành tạo ra “một người mới” (Ê-phê-sô 2:15). Bức tường ngăn cách của sự thù địch giữa người Do Thái và người Ngoại đã bị phá hủy trong Đấng Christ. Những khác biệt văn hóa vẫn còn—Phao-lô vẫn là người Do Thái, Lu-xi-út vẫn là người Bắc Phi—nhưng những điều này trở thành biểu hiện của Tin Lành chứ không phải là định nghĩa của nó. Đấng Christ không chỉ đơn thuần bảo tồn những khác biệt sắc tộc—Ngài tạo ra một cái gì đó hoàn toàn mới.


Phần IV: Những Áp Dụng Thực Tiễn cho các Hội Thánh Ly Hương Việt Nam

1. Tái Định Hình Bản Sắc từ Bảo Tồn Dân Tộc sang Tham Gia vào Phúc Âm

Các Hội Thánh phải giúp các Cơ Đốc nhân Việt Nam—đặc biệt là thế hệ thứ hai—trả lời câu hỏi “Tôi là ai?” bằng một câu trả lời theo Phao-lô: “Tôi là một nhánh ô-li-ve dại, được tháp vào gia đình của Đức Chúa Trời bởi ân điển, được nuôi dưỡng bởi gốc rễ là Đấng Christ.” Điều này không xóa bỏ bản sắc Việt Nam; nó đặt bản sắc đó dưới một bản sắc cơ bản hơn.

Về mặt thực tế, điều này có nghĩa là các buổi thờ phượng nâng cấp văn hóa Việt Nam như một món quà để tặng cho hội thánh toàn cầu chứ không phải là một pháo đài để bảo vệ. Các bài giảng nên thường xuyên nhấn mạnh các phân đoạn như Khải Huyền 7:9—”một đám đông lớn không ai đếm được, từ mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ”—cùng với Rô-ma 11. Các nhóm thanh thiếu niên nên trang bị cho người trẻ không chỉ để nói tiếng Việt mà còn để nói rỏ Tin Lành trong nhiều bối cảnh văn hóa khác nhau.

2. Phát Triển Ban Lãnh Đạo Song Ngữ và Song Văn Hóa Qua các Mục Vụ Tiếng Anh

Thách thức cấp bách nhất mà các Hội Thánh ly hương Việt Nam phải đối mặt là khoảng cách lãnh đạo thế hệ. Các mục sư thế hệ thứ nhất đang già đi; những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai phần lớn đã rời đi. Giải pháp không phải là chọn giữa mục vụ nói tiếng Việt hay nói tiếng Anh mà là đào tạo các nhà lãnh đạo thông thạo cả hai văn hóa và có nền tảng thần học vững chắc cho cả hai bối cảnh.

An-ti-ốt có điều này: Phao-lô cân nhắc hai thế giới Do Thái và Hy Lạp; Ba-na-ba làm cầu nối giữa văn hóa Chíp-rơ và Giê-ru-sa-lem. Các Hội Thánh Việt Nam cần những nhà lãnh đạo có thể giảng bằng tiếng Việt cho các bà, tư vấn bằng tiếng Anh cho thế hệ millennials, và giải thích các giá trị văn hóa Việt Nam cho các hội thánh đa sắc tộc được khai sinh.

Sự cân nhắc trên cũng cho thấy một bài học quan trọng về sự kế thừa lãnh đạo. Như Mục sư Phạm Hùng đã tinh ý nhận xét, những giai đoạn khác nhau của một phong trào đòi hỏi những ân tứ lãnh đạo khác nhau. Giai đoạn đầu đòi hỏi một người hòa giải và xây cầu nối như Ba-na-ba để xác nhận và kết nối công việc mới từ Chúa này với sự lãnh đạo đã được thiết lập từ Giê-ru-sa-lem. Sau đó, khi sứ mạng được mở rộng và đòi hỏi một khuôn khổ thần học vững chắc, những ân tứ của sứ đồ Phao-lô đã đưa ông lên hàng đầu (và tên của Ba-na-ba vào hàng thứ trong sách Công Vụ). Điều này cho thấy sự cần thiết của sự khôn ngoan trong việc nhận diện và trao quyền cho những nhà lãnh đạo phù hợp vào đúng thời điểm, tôn vinh công lao nền tảng của những ‘Ba-na-ba’ đồng thời mở đường cho năng lực rông lớn của những ‘Phao-lô’.

Vào thập niên 1990-2000, các Hội Thánh ly hương Việt Nam đã phải đối mặt với một thách thức chung: phục vụ thế hệ thứ hai, cho những người lớn lên trong văn hóa phương Tây và chủ yếu nói tiếng Anh. Nhiều hội chúng đã đáp lại bằng cách thành lập một Mục Vụ Tiếng Anh (EM) để kết nối các thế hệ dưới một mái nhà thờ. Nếu không có những nỗ lực như vậy, giới trẻ thường trôi dạt đến các Hội Thánh bản xứ hoặc rời bỏ hoàn toàn đời sống Hội Thánh—một mô hình được ghi nhận trên khắp các cộng đồng ly hương Việt Nam.[^23]

Một phương pháp tiếp cận hiệu quả là mô hình ‘Một Hội Thánh, Hai Ngôn Ngữ’, nơi các hội chúng nói tiếng Việt và tiếng Anh chia sẻ một gia đình lãnh đạo chung trong khi vẫn thực hiện mục vụ bằng ngôn ngữ chính của họ. Một nghiên cứu điển hình ở Texas, Hội Thánh Báp-tít Redeemer ở Plano, đã sáp nhập hai Hội Thánh Việt Nam và bắt đầu thờ phượng cùng nhau trước khi chuyển sang các bài giảng tiếng Việt và tiếng Anh đồng thời, và sau đó đoàn tụ lại như một thân thể.[^24] Mô hình này thể hiện tầm nhìn An-ti-ốt về sự hiệp nhất trong đa dạng.

Tại Úc, Hội Thánh Earthen Vessels (Melbourne) đã dùng song ngữ từ năm 1981 và chủ động hợp nhất các thế hệ quanh một sứ mạng chung. Các thành viên lớn tuổi và trẻ tuổi đã hợp tác trong các nhóm truyền giáo đến Việt Nam, với các trưởng lão hỗ trợ và giới trẻ dẫn đầu công việc tại tiền tuyến—cách cụ thể để kết nối ngôn ngữ và văn hóa thông qua một mục tiêu chung.[^25]

Một số Mục Vụ tiếng Anh thế hệ thứ hai ngày càng áp dụng trọng tâm đa sắc tộc trong khi vẫn duy trì sự kết nối với Hội Thánh Việt Nam. Một ví dụ ở Nam Úc đã hình dung rõ ràng thế hệ thứ hai nói tiếng Anh chuyển thành một cộng đồng đa sắc tộc như biểu hiện của Tin Lành rộng mở.[^26] Điều này đại diện cho một bước đi hữu hình từ bảo tồn (Si-ôn) sang sứ mạng (An-ti-ốt).

Một số phương pháp thực hành tốt nhất được lặp đi lặp lại trong các ví dụ trên:

  • Chủ ý việc hòa nhập ngôn ngữ (dịch thuật, các buổi lễ song ngữ, và các lễ kỷ niệm nhạy bén về văn hóa)
  • Dìu dắt liên thế hệ và sứ mạng chung
  • Đầu tư vào phát triển lãnh đạo song ngữ (bao gồm thực tập và học bổng cho các nhà lãnh đạo thế hệ thứ hai)
  • Kết nối liên Hội Thánh để học hỏi lẫn nhau và để tạo khối lượng thanh niên đáng kể

Các nhà lãnh đạo trên khắp các giáo phái Việt Nam nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải đào tạo các mục sư và lãnh đạo giáo dân thế hệ thứ hai. Như một nhà lãnh đạo Báp-tít Việt Nam đã nói: “Hãy cầu nguyện cho thế hệ thứ hai… Không có nhiều người trẻ [Việt Nam] đang dấn thân đi vào chức vụ, ngay cả đối với mục vụ tiếng Anh.”[^27]

Ở những nơi các phương pháp này được thực hiện, kết quả rất đáng hy vọng: Các Mục Vụ Tiếng Anh phát triển, các nhà lãnh đạo thế hệ thứ hai xuất hiện, và các Hội Thánh trở thành cầu nối đến các khu dân cư đa sắc tộc của họ. Ngược lại, ở những nơi thiếu sự tham gia, các hội chúng già cỗi phải đối mặt với sự suy tàn. Mục Vụ Tiếng Anh không chỉ đơn thuần là một buổi lễ song song, mà là một vườn ươm quan trọng cho thế hệ lãnh đạo tiếp theo và là mặt trận đầu tiên cho sự tham gia truyền giáo của Hội Thánh.

3. Nghiên Cứu Điển Hình: Mục Vụ Tiếng Anh Midway và hội thánh  Redemption Point—Từ Bảo Tồn đến An-ti-ốt

Hành trình từ lý thuyết đến thực hành đòi hỏi cả niềm tin thần học và lòng can đảm tổ chức. Câu chuyện của Mục Vụ Tiếng Anh Midway và tổ chức kế nhiệm của nó, hội thánh  Redemption Point, cung cấp một nghiên cứu điển hình cụ thể về một Hội Thánh ly hương Việt Nam đang cố gắng sống theo sự thay đổi mô thức từ Si-ôn tập trung vào bảo tồn sang An-ti-ốt sai phái truyền giáo.

Bước Ngoặt Thần Học: Từ Duy Trì đến Sứ Mạng (1996-2008)

Mục Vụ Tiếng Anh Midway bắt đầu như một ban thanh niên điển hình trong những năm 1990 trong một Hội Thánh di dân Việt Nam. Nhưng một thời điểm quan trọng đến với sự ra mắt của ban thanh niên tiếng Anh. Người lãnh đạo thanh niên và sau này là mục sư sáng lập của hội thánh  Redemption Point đã trình bày một niềm xác tín sẽ định hình ba thập kỷ tiếp theo: “Nếu Chúa không dùng chúng ta để tiếp cận người mới, thì tốt hơn hết là nên dẹp tiệm. Có thêm một ban bệ nữa để làm gì?”[^28] Điều này đại diện cho một sự tái định hướng thần học cơ bản: câu hỏi trung tâm trở thành, “Làm thế nào để chúng ta huy động thế hệ tiếp theo cho sứ mạng của Đức Chúa Trời?” thay vì “Làm thế nào để chúng ta bảo tồn bản sắc tín đồ Việt Nam?” Một câu hỏi tạo ra một ốc đảo dân tộc tập trung vào duy trì; câu hỏi kia tạo ra một Hội Thánh truyền giáo.

Đến năm 2001, ban lãnh đạo thanh niên nhận ra một cách rõ ràng rằng giới trẻ nói tiếng Anh không thể bị đối xử như những đứa trẻ vĩnh viễn của Hội Thánh mẹ. Họ là một cánh đồng truyền giáo cần được tiếp cận và trao quyền, không chỉ đơn thuần là những thành viên nói tiếng Anh của Hội Thánh tiếng Việt.[^29] Điều này đòi hỏi phải vun trồng một hội chúng tự túc, tự quản, tự truyền bá, và tự thần học hóa—những dấu hiệu kinh điển của một Hội Thánh truyền giáo trưởng thành chứ không phải là một vệ tinh phụ thuộc.[^30]

Sự tương phản mô thức trở nên rõ ràng trong các tài liệu lập kế hoạch (planning documents):

  • Từ Bảo tồn → Đến Tham gia vào sứ mạng của Đức Chúa Trời
  • Từ Đơn văn hóa → Đến Các nhóm đa sắc tộc, song ngữ
  • Từ Nỗi đau hướng nội → Đến Sự công bố hướng ngoại
  • Từ Lãnh đạo trông coi → Đến Lãnh đạo sai phái[^31]

Điều này có nghĩa là chúng ta chấp nhận thực tế rằng bản sắc văn hóa sẽ không còn quy tụ được mọi người. Hội Thánh phải trở nên truyền giáo trong bối cảnh địa phương của mình—tiếp cận những người hư mất bất kể xuất thân, giới thiệu họ với Phúc Âm, và môn đồ hóa họ.[^32]

Đến năm 2008, buổi nhóm tiếng Anh của Midway có trung bình hơn một trăm người tham dự, bao gồm nhiều người không có mối liên hệ gia đình với Hội Thánh Việt Nam.[^33] EM đã trở thành một điểm để vào một cộng đồng rộng lớn hơn của con dân Chúa, không chỉ đơn thuần là một sự điều chỉnh ngôn ngữ cho con cái của những người tín đồ Việt Nam nhập cư ở Mỹ.

Điều Hướng Căng Thẳng Liên Thế Hệ: Khủng Hoảng 2009 và Việc Thành Lập Hội Thánh 2010

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ bảo tồn sang sứ mạng hiếm khi suôn sẻ. Hành trình của Midway minh họa những thách thức sâu sắc của mục vụ liên thế hệ trong bối cảnh ly hương.

Ban chấp hành hội thánh đã phải điều chỉnh mức độ độc lập để trao cho hội chúng tiếng Anh, một vấn đề được chính thức hóa trong các Hội Đồng Giáo Hạt. Tiến sĩ Lê Vĩnh Thạch đã trình bày các lựa chọn cơ cấu—mô hình Cái Dù (EM vẫn là một ban của Hội Thánh mẹ), mô hình Song Song (một hội chúng bán tự trị), và mô hình Hội Chúng đầy đủ (một Hội Thánh độc lập được khai sinh)—tại Hội Đồng Giáo Hạt 2003.[^34] Sự chú ý cấp giáo hạt này đối với cơ cấu của EM báo hiệu sự công nhận ngày càng tăng rằng thế hệ thứ hai nói tiếng Anh đòi hỏi nhiều hơn là sự điều chỉnh ngôn ngữ—họ cần sự tự chủ của hội thánh để theo đuổi sự kêu gọi truyền giáo của mình.

Vào những năm 2005-2008, trong xu hướng phát triển song song: một Ban Lãnh đạo Tiếng Anh được thành lập, một mục sư cho sinh viên bán thời gian được cung lương bởi EM, và EM được có ngân sách và tài khoản ngân hàng riêng tại Midway.[^35]

Rồi tới 2009, một cuộc xung đột lớn đã chia đôi Hội Thánh nói tiếng Việt, và ban chấp hành mới bãi bỏ quyết định về mô hình song song—kéo mục vụ tiếng Anh trở lại mô hình Cái Dù vào đầu năm 2010, gây suy sụp tinh thần và số người tham dự trong hội chúng tiếng Anh.[^36] Bản năng bảo tồn, được kích hoạt bởi khủng hoảng, đã tự khẳng định lại trong hội thánh.

Giửa năm 2010, nhận ra rằng mô hình hợp nhất đang thất bại, 40 người từ hội chúng tiếng Anh đã ra riêng với tên gọi hội thánh Redemption Point và được sự chúc phước của Giáo hạt Việt Nam — được nhìn nhận rằng đây không phải là một sự chia rẽ thù địch, mà là một cuộc “tái-khai-sinh” cho đại sứ mạng.[^37] Ngôn ngữ này rất có ý nghĩa: đây không phải là từ bỏ mà là nhân rộng chiến lược. Hội thánh  Redemption Point đã chọn cùng địa điểm với hội chúng nói tiếng Việt đã ly khai một một năm trước đó. Hai hội chúng sẽ cùng dùng một khuôn viên với hai buổi nhóm riêng và hai ban chấp hành riêng, nhưng trong tinh thần đối tác—một cách tiếp cận “hai thân thể, một mái nhà.”[^38]

Tài liệu nội bộ “Hướng Dẫn đến Sự Hòa Hợp”, do một nhà cố vấn về phát triển EM Tiến sĩ Robert Goette, soạn thảo, đã khuyến khích quản lý linh hoạt: thế hệ thứ nhất nên thích ứng với các giá trị và chuẩn mực của thế hệ thứ hai miễn là chúng phù hợp với Kinh Thánh. Ngôn ngữ nên theo văn hóa; buộc người Việt trong EM phải theo văn hóa Việt sẽ đặt một ách đô hộ văn hóa không cần thiết.[^39] Các thành viên nói tiếng Anh được khuyến khích truyền giảng ra ngoài cộng đồng Việt Nam; không truyền giảng là trở nên cằn cỗi, và không cho phép họ lãnh đạo là từ chối việc sử dụng các ân tứ thuộc linh của họ.[^40]

Các báo cáo hàng năm của hội thánh  Redemption Point đã trình bày một tầm nhìn truyền giáo rõ ràng: để thấy mối quan hệ cứu chuộc của Chúa Giê-xu thức tỉnh từ trong chính chúng ta, sau đó trong các vòng liên hệ của chúng ta, nhân rộng Phúc Âm đến thế hệ thứ tư và xa hơn nữa.[^41] Tuyên bố sứ mạng trong “Đề xuất Thành lập Hội Thánh Redemption Point” đã kết tinh niềm xác tín của An-ti-ốt: “Được thu hút bởi tình yêu của Đức Chúa Trời, cùng nhau lớn lên bởi Thánh Linh, và phục vụ và chia sẻ Tin Lành của Chúa Je6sus—vì Tin Lành thay đổi mọi thứ.”[^42]

Hội thánh Redemption Point cũng định nghĩa sức mạnh một cách khác biệt: không phải bởi quy mô số đông mà bởi những cuộc đời được Chúa biến đổi. Các lãnh đạo cầu nguyện rằng ít nhất 10% số người đi nhóm sẽ là những người chưa tin Chúa vào bất kỳ thời điểm nào, để đảm bảo cộng đồng luôn hướng ngoại.[^43]

Các Công Cụ và Khuôn Khổ Thực Tiễn để Trở Thành An-ti-ốt

Việc chuyển từ bảo tồn sang sứ mạng đòi hỏi nhiều hơn là niềm tin thần học; nó đòi hỏi các công cụ và khuôn khổ thực tiễn. Cả Mục Vụ Tiếng Anh Midway và hội thánh  Redemption Point đều đã thử nghiệm với nhiều hệ thống môn đồ hóa và truyền giáo khác nhau.

Vào cuối những năm 1990, EM Midway đã áp dụng triết lý đào tạo môn đồ của SonLife (tài liệu Hội Thánh Sống Mạnh từ Tổng Hội) nhấn mạnh việc nhân rộng có chủ ý thay vì duy trì chương trình.[^44] Đến năm 2008, ban lãnh đạo EM đã phác thảo một bản đồ tăng trưởng thuộc linh cho thành viên để làm rõ đường lối từ người tìm đạo đến nhà truyền giáo được sai đi.[^45]

Khi thành lập năm 2010, hội thánh sử dụng Cẩm nang Thành lập Hội thánh của Redeemer NYC, rối hội thánh Redemption Point đã kết hợp các công cụ như Vòng tròn Học hỏi của 3DMtam giác Lên-Vào-Ra (cân bằng mối quan hệ với Đức Chúa Trời, cộng đồng và sứ mạng) để có động lực truyền giáo.[^46] Việc phát triển các giá trị cốt lõi đã được sử dụng để giảng dạy và khắc sâu một trọng tâm hướng ngoại trong đời sống hội chúng.[^47] Mỗi công cụ được áp dụng không chỉ đơn thuần là phương pháp luận mà là sự thực thi niềm xác tín của An-ti-ốt: sự hình thành thuộc linh phải hướng đến sứ mạng, không phải sự duy trì. Điều này đã dẫn đến những mùa gặt đáng kể, gồm nhiều báp-tem.[^48]

Quan trọng là các lãnh đạo nhận ra sự cầu nguyện là nền tảng: “Cầu nguyện là công việc thực sự; truyền giảng là việc theo sau.”[^49] Niềm xác tín này nên hướng dẫn các buổi thờ phượng của chúng ta, nơi việc sai phái truyền giáo phải xuất phát từ cầu nguyện chứ không phải từ các ủy ban hoạch định chiến lược—phản ánh mô hình của An-ti-ốt trong Công vụ 13:1-3.

Kết Quả: Sự Tham Gia Truyền Giáo và Phát Triển Lãnh Đạo

Sự chuyển đổi từ bảo tồn sang sứ mạng đã mang lại kết quả hữu hình, đặc biệt là trong sự tham gia truyền giáo và phát triển lãnh đạo.

Các chuyến truyền giáo ngắn hạn đã trở thành một chất xúc tác cho sự hình thành thuộc linh và sự rõ ràng về ơn gọi. Một báo cáo truyền giáo năm 2007 đã ghi nhận rằng đối với nhiều người trẻ, việc tham gia tích cực vào sứ mạng toàn cầu của Chúa đã trực tiếp dẫn đến một ý thức rõ ràng hơn về bản sắc cá nhân, về cam kết sâu sắc với việc nghiên cứu Kinh Thánh, và định hướng ơn gọi vào mục vụ lâu dài. Những câu chuyện này minh họa cách sự tham gia truyền giáo định hình bản sắc: những người trẻ không thể liên hệ với câu chuyện lưu đày của cha mẹ, nhưng họ khám phá ra câu chuyện của chính mình qua việc tham gia vào sứ mạng toàn cầu của Đức Chúa Trời. [^50-53]

Đến năm 2010, EM Midway đã đào tạo đủ các lãnh đạo để duy trì được cả hai hội chúng: EM Midway còn lại, và hội thánh mới được thành lập, Redemption Point.[^54] Hội thánh  Redemption Point đẩy mạnh việc phát triển lãnh đạo hơn nữa: thêm nhân sự, cho học bổng, thực tập, và một chương trình ươm mơ hội thánh mới để vun trồng các mục sư và nhà lãnh đạo tương lai.[^55]

Hội thánh cũng chủ động tiếp cận các sinh viên quốc tế từ Nhật Bản, Việt Nam và các nơi khác. Tín đồ chia sẻ cuộc sống, đơn giản hóa các bài học dùng tiếng Anh giản di hơn, cung cấp sự đưa đón với lòng hiếu khách—sống theo 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8 trong một bản sắc An-ti-ốt đa sắc tộc.[^56]

Tuy nhiên, mục vụ song văn hóa có giá trả. Đến năm 2012, việc một mục sư đảm nhiệm hai hội thánh đã dẫn đến sự suy sụp, thúc đẩy việc kêu gọi thêm mục sư bổ sung, nhấn mạnh hơn việc đào tạo và huấn luyện.[^57] Cuộc khủng hoảng này đã củng cố sự cần thiết của các mô hình bền vững phân chia mục vụ thay vì chỉ tập trung vào một vài nhà lãnh đạo song ngữ.

Sự Đảo Ngược Năm 2024: Các Tín Hữu Nói Tiếng Việt Gia Nhập Một Hội Thánh Tiếng Anh

Có lẽ bằng chứng nổi bật nhất về sức mạnh biến đổi của mô thức An-ti-ốt đã đến vào năm 2024. Một nhóm các tín hữu nói tiếng Việt—những người lớn tuổi và những người nhập cư gần đây—đã tiếp cận hội thánh Redemption Point để tìm chổ thờ phượng. Vì không nhận lời giới thiệu đến các Hội Thánh nói tiếng Việt khác, RP đã cưu mang và mời họ vào sứ mạng, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi hiện có của mình, thay vì để họ thành một hội thánh Việt Nam riêng biệt.[^58]

Đây là một sự đảo ngược đáng chú ý của mô hình thông thường. Thường thì các thành viên thế hệ thứ hai nói tiếng Anh gia nhập các Hội Thánh Việt Nam và sau đó phải vật lộn để tìm vị trí của mình. Ở đây, các tín hữu thế hệ thứ nhất nói tiếng Việt gia nhập một Hội Thánh nói tiếng Anh đã được thiết kế rõ ràng cho những người Việt sinh ra tại Mỹ và những người hàng xóm đa sắc tộc của họ.

RP đã tích hợp những tín hữu này thông qua quy trình làm thành viên hội thách (membership process), nhấn mạnh cam kết đối với sứ mạng phúc âm chung hơn là sự thoải mái về ngôn ngữ và văn hóa.[^59] Hội Thánh cũng có tổ chức buổi nhóm thông công tiếng Việt hàng tháng (RPV) như một hoạt động tiếp cận, thu hút nhiều người và dẫn đến những người mới tin Chúa. Sau đó, hội thánh dùng mô hình Cộng đồng Truyền giáo (Missional Community) của Austin Stone church để khởi động một buổi nhóm thứ hai tiếng Việt—đáp ứng nhu cầu ngôn ngữ cho sự truyền giáo mà không thay đổi bản sắc cốt lõi tiếng Anh của hội thánh RP.[^60]

Mô hình này thể hiện tầm nhìn An-ti-ốt trong thực tế: các nhánh tự nhiên (tín hữu nói tiếng Việt) và các nhánh dại (người Việt sinh ra tại Mỹ, sinh viên quốc tế, và các thành viên không phải người Việt) cùng hút sự sống từ cùng một gốc (Đấng Christ), cùng thờ phượng bất chấp sự khác biệt ngôn ngữ, hợp nhất bởi một sứ mạng chung.

Trong suốt những quá trình chuyển đổi này, các lãnh đạo nhấn mạnh “sự khiêm nhường của người được tháp vào” (Rô-ma 11): hãy đứng trên đức tin, phải hạ mình; tỉa bỏ kiêu ngạo, xây dựng những cây cầu.[^61] Lập trường thần học này đã cho phép sự linh hoạt thực tế và sự sáng tạo truyền giáo.

Những Bài Học cho Cộng Đồng Ly Hương Việt Nam Rộng Lớn Hơn

Câu chuyện của EM Midway và hội thánh Redemption Point cung cấp một số bài học có thể chuyển giao cho các Hội Thánh ly hương Việt Nam:

  1. Sự rõ ràng về thần học đi trước sự thay đổi về tổ chức. Sự chuyển đổi từ bảo tồn sang sứ mạng đòi hỏi sự trình bày khải tượng Kinh Thánh trước khi tái cấu trúc các chương trình.
  2. Xung đột liên thế hệ là sự không thể tránh khỏi, nhưng có thể được cứu chuộc. Cuộc khủng hoảng năm 2009 gần như đã phá hủy mục vụ tiếng Anh, nhưng khuôn khổ tái-khai-sinh đã biến xung đột thành sự nhân rộng.
  3. Các công cụ thực tế rất quan trọng. Ngôn ngữ truyền giáo trừu tượng phải được thể hiện trong các khuôn khổ, lịch trình, và công cụ thực tiễn.
  4. Phát triển lãnh đạo là việc không thể thương lượng. Nếu không đào tạo lãnh đạo thế hệ thứ hai, các Mục Vụ tiếng Anh vẫn là phần phụ thuộc thay vì là các Hội Thánh được sai đi.
  5. Mô hình An-ti-ốt rất linh hoạt. Nhóm nói tiếng Việt gia nhập một Hội Thánh tiếng Anh vào năm 2024 đã chứng tỏ rằng trọng tâm sứ mạng, chứ không phải sự đồng nhất về ngôn ngữ, mới là yếu tố định hình bản sắc.
  6. Cái giá phải trả có thật nhưng đáng giá. Sự kiệt sức của mục sư, xung đột, và sự mất mát của một số tín đồ là những thực tế đau đớn. Nhưng giải pháp thay thế—một Hội Thánh tập trung vào bảo tồn mà mất đi con cái và sứ mạng của mình—cuối cùng sẽ đau đớn hơn.

4. Vun Trồng Sự Đáp Ứng Do Thánh Linh Dẫn Dắt và Lòng Rộng Lượng Hy Sinh

An-ti-ốt đã làm mẫu cho một Hội Thánh hòa hợp cả sự dẫn dắt thiêng liêng và nhu cầu con người. Thánh Linh tiết lộ một nạn đói sắp xảy ra, và Hội Thánh đã lập tức đáp lại bằng lòng thương xót, gửi cứu trợ đến Giê-ru-sa-lem (Công vụ 11:27-30). Sau đó, trong lúc thờ phượng và kiêng ăn, Thánh Linh kêu gọi Ba-na-ba và Sau-lơ đi truyền giáo, và Hội Thánh đã sai họ đi (Công vụ 13:1-3).

Các Hội Thánh Việt Nam nên vun trồng cùng một tư thế này: lắng nghe một cách mong đợi sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời và đáp lại bằng cách vâng lời với cả lòng trắc ẩn lẩn can đảm. Điều này không giống các ủy ban hoạch định chiến lược nhưng giống như việc cầu nguyện kiêng ăn kéo dài, để hỏi: “Chúa đang làm việc ở đâu? Ngài tiết lộ những nhu cầu nào cho chúng ta? Ngài đang kêu gọi chúng ta sai ai đi?”

Cơ chế của sự hướng dẫn thiêng liêng ít quan trọng hơn thái độ: Chúng ta có đang lắng nghe không? Chúng ta có đang đáp ứng không? Chúng ta có rộng lượng không? Chúa có thể tiết lộ nhu cầu và cơ hội qua việc suy ngẫm Kinh Thánh, qua sự khôn ngoan của mục sư, qua các hoàn cảnh quan phòng, qua những người truyền giáo đến thăm, hoặc—vâng—cả sự soi sáng tiên tri. Thánh Linh vẫn tiếp tục hướng dẫn Hội Thánh, ngay cả khi chúng ta thận trọng về các lời tiên tri thời nay. Điều quan trọng là chúng ta đang chú ý và sẵn sàng hành động một cách hy sinh.

Các cơ hội thực tế cho lòng rộng lượng đáp ứng:

  • Hỗ trợ các Cơ Đốc nhân bị bắt bớ tại Việt Nam: Tài trợ cho các mạng lưới Hội Thánh tại gia, các chủng viện ngầm, và các mục sư dưới sự áp lực
  • Tài trợ việc thành lập Hội Thánh Việt Nam ở các cộng đồng ly hương chưa được tiếp cận
  • Bảo trợ người tị nạn từ các quốc gia khác: Đáp lại lòng nhân từ mà người Việt Nam đã nhận được vào năm 1975
  • Tham gia với sinh viên quốc tế Việt Nam tại các trường đại học Bắc Mỹ với lòng nhân từ triệt để
  • Phục vụ những người nhập cư Việt Nam gần đây đang chạy trốn khó khăn kinh tế
  • Hợp tác với các mục vụ tại Việt Nam, nơi Cơ Đốc giáo đang phát triển nhanh chóng bất chấp những hạn chế của chính phủ[^62]
  • Xây dựng cầu nối với các cộng đồng ly hương Đông Nam Á mà các Cơ Đốc nhân Việt Nam có chung mối tương đồng văn hóa
  • Phục vụ những người bị thiệt thòi trong các khu dân cư đa văn hóa nơi các Hội Thánh Việt Nam tọa lạc

An-ti-ốt đã gửi cứu trợ đến Giê-ru-sa-lem mặc dù trẻ hơn, nhỏ hơn, và eo hẹp về nguồn lực hơn. Các Hội Thánh ly hương Việt Nam nên chống sự cám dỗ tích trữ tài nguyên cho việc bảo tồn; thay vào đó hãy thực thi mô hình An-ti-ốt: lắng nghe đáp ứng, dâng hiến hy sinh, và sai phái can đảm.

5. Cân Nhắc Căng Thẳng trong Giáo Hạt với Tư Duy Nước Trời

Sự cám dỗ về lòng tự hào dân tộc vẫn có thể biểu hiện ở cấp độ giáo hạt. Vào năm 2022, một nỗ lực hình thành một giáo phái Việt Nam ly khai “bởi người Việt, cho người Việt” đã nổi lên trong giáo hạt Việt Nam. Ban chấp hành hội thánh Redemption Point đã chọn sự hiệp nhất thay vì lòng tự hào dân tộc, tập trung vào việc thúc đẩy phúc âm thay vì sự tự chủ văn hóa.[^63]

Quyết định này thể hiện lời cảnh báo của Phao-lô trong Rô-ma 11:20: “Đừng kiêu ngạo, nhưng hãy sợ hãi.” Các Cơ Đốc nhân Việt Nam, là những nhánh ô-li-ve dại được tháp vào bởi ân điển, không có cơ sở để khoe khoang. Sự kêu gọi của chúng ta là tham gia một cách khiêm tốn vào sứ mạng của Đức Chúa Trời, không phải để dân tộc hóa Tin Lành.

6. Kể Một Câu Chuyện Mới tại Kỷ Niệm 50 Năm Hân Hỉ

Kỷ niệm 50 năm cho ta thời điểm kairos để tái định hình câu chuyện ly hương Việt Nam. Thay vì câu chuyện cũ—”Chúng ta là những người lưu đày đang tiếc thương Si-ôn, bảo tồn di sản của mình cho đến khi trở về”—hãy kể một câu chuyện mới: “Chúng ta là những hạt giống được gieo bởi bàn tay của Đức Chúa Trời, được kêu gọi để nở hoa nơi chúng ta được trồng và gieo thêm nhiều hạt giống cho vương quốc của Ngài.”

Câu chuyện mới này nâng cao nỗi đau (nỗi thống khổ không nguôi của Phao-lô cho Y-sơ-ra-ên) mà không bị mắc kẹt trong đó. Sự kết thúc của than khóc là sứ mạng.


Kết Luận: Lời Tôn Vinh mà Cộng Đồng Ly Hương Cần

Phao-lô kết thúc Rô-ma 11 không phải bằng một kế hoạch chiến lược mà bằng một lời tôn vinh: “Ôi, sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và tri thức của Đức Chúa Trời!… Vì mọi vật đều từ Ngài, qua Ngài và hướng về Ngài. Nguyện sự vinh hiển thuộc về Ngài đời đời! A-men” (11:33, 36). Trước khi Hội Thánh có thể làm bất cứ điều gì cho Chúa, ta phải im lặng trước sự vĩ đại của Ngài.

Sai lầm của cả mô thức Lưu Đày lẩn sự cám dỗ bảo tồn văn hóa là nghĩ rằng chúng ta có thể đảm bảo tương lai của mình thông qua nỗ lực của chính mình—dù là bằng cách bảo tồn truyền thống hay bằng cách lập kế hoạch chiến lược. Toàn bộ lập luận của Phao-lô từ Rô-ma 9-11 đã phá hủy sự tự tin đó. Chúng ta là những nhánh ô-li-ve dại. Chúng ta không đóng góp gì cả. Đấng Christ, gốc rễ, nuôi dưỡng chúng ta. Địa vị của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào đức tin vào công việc đã hoàn tất của Ngài, không phải vào di sản, tính xác thực văn hóa, hay thành tích tôn giáo của chúng ta.

Đây không phải là một lời khuyên để thụ động. Đây là sự giải thoát cho sứ mạng. Khi bản sắc và sự an toàn đặt nền tảng duy nhất nơi Đấng Christ, Hội Thánh được tự do để liều bỏ mọi thứ cho Tin Lành. Cơ Đốc nhân Việt Nam không cần phải bám víu tuyệt vọng vào ngôn ngữ và văn hóa vì bản sắc của chúng ta không bị đe dọa—Đấng Christ đã bảo đảm nó. Chúng ta có thể gửi những người lãnh đạo trẻ tốt nhất của mình đến các nước vì tương lai chúng ta không phụ thuộc vào sự tăng trưởng số lượng—Đấng Christ bảo đảm điều đó. Chúng ta có thể đón nhận sự thờ phượng đa sắc tộc và các mối quan hệ xuyên văn hóa vì di sản của chúng ta không định nghĩa chúng ta—Đấng Christ định nghĩa chúng ta.

Câu chuyện của Mục Vụ Tiếng Anh Midway và hội thánh  Redemption Point chứng minh rằng đây không chỉ là lý thuyết. Thông qua xung đột và thành lập hội thánh, thông qua sự tham gia truyền giáo và những sự đảo ngược bất ngờ (các tín hữu nói tiếng Việt gia nhập một Hội Thánh tiếng Anh), một niềm xác tín truyền giáo đã sinh hoa kết trái: một cộng đồng đa sắc tộc, liên thế hệ, sai phái truyền giáo, vừa tôn vinh di sản Việt Nam của mình vừa từ chối sự giới hạn bởi nó.

Năm mươi năm sau ngày di tản, cộng đồng ly hương Việt Nam đang đứng ở một ngưỡng cửa. Phía sau chúng ta là câu chuyện về sự sống còn, sự quan phòng, và sự bảo tồn—một câu chuyện đáng được nâng cao. Trước mắt chúng ta là một lời mời gọi vào một điều lớn lao hơn: được tháp vào không phải là xã hội Mỹ mà vào sứ mạng toàn cầu của Đức Chúa Trời, để chuyển từ việc tiếc thương những gì đã mất sang việc ban cho những gì chúng ta đã nhận được, để ngừng bám víu vào Si-ôn và bắt đầu xây dựng An-ti-ốt.

Sự mầu nhiệm đã được tỏ ra: Lòng Thương Xót Đã Được Ban Ra! (Rô-ma 11:25-32). Bây giờ chỉ còn lại một câu hỏi: Liệu Hội Thánh Việt Nam có cùng dâng lời tôn vinh không? Liệu chúng ta có thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng mà sự khôn ngoan của Ngài đã tháp những nhánh dại vào gia đình Ngài, và liệu chúng ta có trở thành Hội Thánh đa sắc tộc, được Thánh Linh sai đi, tôn cao Đấng Christ, và thấm nhuần sứ mạng mà Ngài đang kêu gọi chúng ta trở thành không?

Năm Hân Hỉ đang chờ đợi câu trả lời của chúng ta.

(Những ghi chú chi tiếc của bài tham luận này [^1 – ^63] nẳm dưới nguyên bản tiếng Anh)